Lục hào Kinh Dịch – hào động, quẻ biến, quẻ hỗ và nạp giáp

Kinh Dịch · Thiên Tử Vi · 28/10/2026 · 7 phút đọc

Hiểu hào động, quẻ biến, quẻ hỗ trong Kinh Dịch, cách gieo 3 đồng xu, quy tắc đọc nhiều hào động và phép Lục hào nạp giáp với thế ứng, lục thân, lục thú.

Một quẻ Kinh Dịch không đứng yên: các hào động cho biết chỗ nào đang chuyển hóa, quẻ biến cho thấy tình thế sẽ đi về đâu, còn quẻ hỗ hé lộ diễn biến ẩn bên trong. Trên nền đó, phép Lục hào nạp giáp gắn thêm can chi, ngũ hành, lục thân cho từng hào để phân tích chi tiết hơn. Bài này giải thích từng khái niệm, kèm một quẻ mẫu để bạn theo dõi.

Hào động là gì

Khi gieo quẻ bằng cỏ thi hoặc đồng xu, mỗi hào nhận một trong bốn giá trị truyền thống:

Giá trị Tên Loại hào Có động không
6 Lão âm âm động, sẽ biến thành dương
7 Thiếu dương dương tĩnh
8 Thiếu âm âm tĩnh
9 Lão dương dương động, sẽ biến thành âm

Ý tưởng là âm dương đến cực điểm ("lão") thì chuyển sang mặt đối lập. Hào động là điểm nóng của quẻ – nơi sự việc đang thay đổi.

Gieo ba đồng xu

Cách phổ biến nhất hiện nay: tung ba đồng xu sáu lần, mỗi lần cho một hào, từ hào 1 (dưới cùng) lên hào 6. Quy ước thường dùng: một mặt tính 3, mặt kia tính 2, cộng ba đồng được 6, 7, 8 hoặc 9. Công cụ gieo quẻ Kinh Dịch của Thiên Tử Vi dùng quy ước mặt ngửa tính 3, mặt sấp tính 2, nên:

  • 0 mặt ngửa (tổng 6): âm động
  • 1 mặt ngửa (tổng 7): dương
  • 2 mặt ngửa (tổng 8): âm
  • 3 mặt ngửa (tổng 9): dương động

Có người quy ước ngược lại (sấp là 3). Điều quan trọng là thống nhất một cách trước khi gieo.

Quẻ biến – xu hướng kết cục

Lấy quẻ chủ, đổi tất cả hào động sang mặt đối lập (âm thành dương, dương thành âm), ta được quẻ biến (còn gọi chi quái). Quẻ chủ là tình thế hiện tại, quẻ biến là chiều hướng mà tình thế đó chuyển tới. Không có hào động thì không có quẻ biến – sự việc được xem là tương đối ổn định.

Quẻ hỗ – diễn biến bên trong

Quẻ hỗ được dựng từ bốn hào giữa của quẻ chủ:

  • Hào 2, 3, 4 làm hạ quái.
  • Hào 3, 4, 5 làm thượng quái.

Vì bỏ hào 1 và hào 6 (khởi đầu và kết thúc), quẻ hỗ được hiểu là phần "ruột" của sự việc, giai đoạn giữa hoặc những yếu tố tiềm ẩn. Quẻ hỗ không phụ thuộc hào động.

Quẻ mẫu: từ đồng xu đến ba quẻ

Giả sử sáu lần gieo cho số mặt ngửa lần lượt (từ hào 1 lên): 1, 3, 2, 2, 0, 1.

  • Hào 1: dương; hào 2: dương động; hào 3: âm; hào 4: âm; hào 5: âm động; hào 6: dương.
  • Hạ quái (hào 1–3): dương, dương, âm = Đoài. Thượng quái (hào 4–6): âm, âm, dương = Cấn.
  • Quẻ chủ: Sơn Trạch Tổn – bớt đi, hy sinh phần dưới để bồi phần trên.
  • Quẻ biến: đổi hào 2 và hào 5, được Chấn dưới, Tốn trên – Phong Lôi Ích, thêm vào, được lợi. Tổn biến Ích là hình ảnh "mất trước được sau".
  • Quẻ hỗ: hào 2–4 là dương, âm, âm (Chấn), hào 3–5 là âm, âm, âm (Khôn) – Địa Lôi Phục, sự trở lại, hồi phục từ từ.

Cấu trúc tên quẻ và bát quái được giải thích trong bài 64 quẻ Kinh Dịch – cấu trúc và cách đọc.

Đọc quẻ khi có nhiều hào động

Một hào động thì dễ: đọc lời hào đó trong quẻ chủ. Khi nhiều hào động, nhiều người theo quy tắc trong sách Dịch học khải mông của Chu Hy (thời Tống), tóm lược như sau:

Số hào động Đọc chủ yếu ở đâu
0 lời toàn quẻ (quái từ) của quẻ chủ
1 lời hào động đó
2 lời hai hào động, lấy hào trên làm chính
3 lời toàn quẻ của quẻ chủ và quẻ biến
4 lời hai hào không động của quẻ biến, lấy hào dưới làm chính
5 lời hào không động duy nhất của quẻ biến
6 Càn, Khôn đọc lời "Dụng Cửu", "Dụng Lục"; quẻ khác đọc lời toàn quẻ của quẻ biến

Với quẻ mẫu có hai hào động (2 và 5), theo quy tắc này ta đọc hào 2 và hào 5 của quẻ Tổn, lấy hào 5 làm chính. Đây là một cách tiếp cận phổ biến, không phải quy định duy nhất; nhiều người đọc cả quẻ chủ, quẻ biến và quẻ hỗ rồi tổng hợp.

Lục hào nạp giáp – phân tích từng hào

Phép Lục hào (còn gọi bốc Dịch, theo truyền thống Hỏa Châu Lâm và Kinh Phòng) không đọc lời kinh là chính mà gắn hệ thống can chi vào quẻ. Các bước:

1. Xác định cung và thế ứng

Sáu mươi tư quẻ chia thành tám cung, mỗi cung đứng đầu bằng một quẻ thuần và mang hành của quẻ đó. Mỗi cung gồm tám quẻ theo thứ tự: bát thuần, nhất thế, nhị thế, tam thế, tứ thế, ngũ thế, du hồn, quy hồn. Hào Thế (đại diện người hỏi) đặt theo thứ tự đó: thuần ở hào 6, nhất thế ở hào 1… ngũ thế ở hào 5, du hồn ở hào 4, quy hồn ở hào 3. Hào Ứng (đại diện đối phương, sự việc) luôn cách Thế ba hào.

Quẻ Tổn thuộc cung Cấn (hành Thổ), là quẻ tam thế: Thế ở hào 3, Ứng ở hào 6.

2. Nạp can chi cho sáu hào

Mỗi quẻ đơn có một bộ can chi cố định cho ba hào nội (khi ở dưới) và ba hào ngoại (khi ở trên). Ví dụ Càn nội quái là Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn; ngoại quái là Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Tuất. Với quẻ Tổn: hạ quái Đoài cho Đinh Tỵ, Đinh Mão, Đinh Sửu; thượng quái Cấn cho Bính Tuất, Bính Tý, Bính Dần.

3. Định lục thân

So hành của chi mỗi hào với hành của cung:

  • Cùng hành: Huynh Đệ
  • Cung sinh hào: Tử Tôn
  • Hào sinh cung: Phụ Mẫu
  • Cung khắc hào: Thê Tài
  • Hào khắc cung: Quan Quỷ

Quẻ Tổn (cung Thổ) từ hào 1 lên: Tỵ Hỏa – Phụ Mẫu; Mão Mộc – Quan Quỷ; Sửu Thổ – Huynh Đệ (Thế); Tuất Thổ – Huynh Đệ; Tý Thủy – Thê Tài; Dần Mộc – Quan Quỷ (Ứng).

4. An lục thú theo can ngày

Lục thú an từ hào 1 lên theo can ngày gieo quẻ: ngày Giáp, Ất khởi Thanh Long; Bính, Đinh khởi Chu Tước; Mậu khởi Câu Trần; Kỷ khởi Đằng Xà; Canh, Tân khởi Bạch Hổ; Nhâm, Quý khởi Huyền Vũ. Thứ tự vòng là Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ.

5. Chọn "dụng thần" theo câu hỏi

Trong Lục hào, dụng thần là lục thân ứng với việc được hỏi (khác hẳn dụng thần trong Bát Tự, xem bài dụng thần, hỷ thần, kỵ thần). Hỏi tiền bạc xem Thê Tài; hỏi công việc, thi cử, chức vụ xem Quan Quỷ hoặc Phụ Mẫu tùy việc; hỏi nhà cửa, giấy tờ xem Phụ Mẫu; hỏi con cái, sự hồi phục xem Tử Tôn. Sau đó xét hào dụng thần vượng hay suy theo tháng, ngày, có động không, được sinh hay bị khắc.

Công cụ của Thiên Tử Vi lập sẵn bảng lục hào gồm can chi, ngũ hành, lục thân, lục thú, Thế và Ứng cho mọi quẻ bạn gieo.

Tóm tắt

  • Hào động là chỗ thay đổi; quẻ biến là xu hướng; quẻ hỗ là diễn biến ẩn bên trong.
  • Có thể đọc quẻ theo lời kinh (quái từ, hào từ) hoặc theo Lục hào nạp giáp (can chi, lục thân); hai cách bổ sung cho nhau.
  • Với Mai Hoa Dịch Số, còn có cách đọc Thể – Dụng, trình bày trong bài gieo quẻ Mai Hoa Dịch Số theo thời gian.

Gieo quẻ là tri thức truyền thống mang tính chiêm nghiệm; khả năng dự đoán của nó chưa được khoa học thực nghiệm chứng minh. Hãy dùng quẻ để nhìn vấn đề rõ hơn và cân nhắc kỹ hơn, còn quyết định quan trọng vẫn nên dựa trên thông tin thực tế.

Công cụ liên quan
Gieo quẻ Kinh Dịch

Bài viết thuộc bản quyền Thiên Tử Vi, mang tính tham khảo văn hóa phương Đông. Chia sẻ vui lòng ghi nguồn và dẫn liên kết về bài gốc.

Bài liên quan