- Nguyên danh
- 柳莊相法
- Tác giả
- Đề Viên Củng (袁珙, 1335–1410), hiệu Liễu Trang cư sĩ, đầu đời Minh
- Thời đại
- Đầu Minh; văn bản lưu hành có thể do người đời Minh – Thanh soạn thêm
- Nhóm
- Tướng pháp
Về chữ “tương truyền”. Viên Củng là thầy tướng có thật, nổi tiếng xem tướng cho Yên vương Chu Lệ (sau là vua Vĩnh Lạc). Nhưng giới nghiên cứu nghi sách mang tên ông do thầy tướng đời sau gửi tên.
Vị trí trong lịch sử môn học
Viên Củng người Ngân huyện (Ninh Ba, Chiết Giang). Sử Minh chép ông xem tướng rất nghiệm, được vua Vĩnh Lạc trọng dụng. Con ông là Viên Trung Triệt cũng giỏi tướng thuật và biên soạn bộ Thần Tướng Toàn Biên, góp phần lớn định hình tướng thư đời sau.
Liễu Trang Tướng Pháp có văn phong gần với ca quyết của thầy hành nghề: câu ngắn, dễ thuộc, nhiều ví dụ đời thường. Sách có những lời dặn tỉnh táo như không được thấy một nét đẹp mà khen, thấy một nét xấu mà chê.
Sách cũng có nhiều phần mang định kiến giới rõ rệt của thời phong kiến (ví dụ các mục phân loại phụ nữ “hiền”, “tiện”). Thiên Tử Vi không trích và không tán thành các phần đó; người đọc nên xem như tư liệu lịch sử về quan niệm xã hội xưa.
Cấu trúc sách
- Thượng tậpTướng thai nhi, trẻ em, thiếu nữ; tam nhạc, ngũ quan; ngũ tinh lục diệu; các bộ phận cơ thể từ đầu đến chân; mười hai cung.
- Trung tậpCác bài phú, ca quyết tổng hợp, khí sắc theo mùa.
- Hạ tậpCách đi, đứng, ngồi, nằm, ăn, nói, cười; vận hạn theo tuổi và nhiều ví dụ.
Tư tưởng chính
Không đoán theo một nét
Một nét đẹp không đủ để nói người tốt, một nét xấu không đủ để nói người xấu.
Thần là chính
Tinh mạnh thì thần trong, thần trong thì mắt sáng: thần thái phản ánh sức khỏe và tinh thần.
Phải quan sát động
Tướng không chỉ ở khuôn mặt tĩnh mà ở cách đi đứng, nói cười.
Sách cũ không theo được hết
Ngay đề mục trong sách cũng thừa nhận khí số thời nay khó y theo sách xưa.
Trích đoạn nguyên văn
4 đoạn trích ngắn. Chữ Hán theo bản gốc (đã chuẩn hóa chữ dị thể), phiên âm Hán Việt, dịch nghĩa và lời giải do Thiên Tử Vi biên soạn.
不可以一美而言善,不可以一惡而言凶。
Phiên âmBất khả dĩ nhất mỹ nhi ngôn thiện, bất khả dĩ nhất ác nhi ngôn hung.
Dịch nghĩaKhông được vì một nét đẹp mà nói là tốt, không được vì một nét xấu mà nói là dữ.
Lời giảiNguyên tắc chống “đoán vội”. Đây cũng là lời nhắc với mọi môn bói: một dấu hiệu đơn lẻ không nói lên cả con người.
不可以美而言好,莫以惡而言害,其中還有異處,不可定一理而推。
Phiên âmBất khả dĩ mỹ nhi ngôn hảo, mạc dĩ ác nhi ngôn hại, kỳ trung hoàn hữu dị xứ, bất khả định nhất lý nhi suy.
Dịch nghĩaKhông được thấy đẹp mà bảo hay, chớ thấy xấu mà bảo hại; trong đó còn có chỗ khác lạ, không thể theo một lẽ cố định mà suy.
Lời giảiSách nhắc lại ý trên ở một mục khác, cho thấy tác giả rất coi trọng điều này. Tiêu đề mục còn ghi “không nên tin là thật, còn phải xem động”.
大概相童之法,要神欲清、血欲明、氣欲和、骨欲堅。
Phiên âmĐại khái tướng đồng chi pháp, yếu thần dục thanh, huyết dục minh, khí dục hòa, cốt dục kiên.
Dịch nghĩaĐại khái phép xem tướng trẻ nhỏ: thần nên trong, huyết sắc nên sáng, khí nên hòa, xương nên chắc.
Lời giảiBốn tiêu chí này thực chất là dấu hiệu một đứa trẻ khỏe mạnh: mắt tinh anh, da hồng hào, tính tình dễ chịu, xương cốt phát triển tốt.
神乃精之苗,精壯即神清,神清則目秀。
Phiên âmThần nãi tinh chi miêu, tinh tráng tức thần thanh, thần thanh tắc mục tú.
Dịch nghĩaThần là mầm của tinh; tinh mạnh thì thần trong, thần trong thì mắt đẹp.
Lời giảiTinh, khí, thần là ba khái niệm của Đông y và Đạo gia. Ý thực tế: nghỉ ngơi đủ, sống điều độ thì ánh mắt tự sáng.
Ứng dụng trên Thiên Tử Vi
- Bài viết: Tam đình, ngũ quan
- Bài viết: Tướng mắt, mũi, miệng
- Thần số học: một góc nhìn khác về tính cách
Bài viết nên đọc thêm
Sách liên quan
Nguồn văn bản gốc
Văn bản: Liễu Trang Tướng Pháp (柳莊相法), một quyển ba tập, đề Viên Củng; trích ở thượng tập.
Đối chiếu: Bản số hóa trên simplelits.com (classical-08783, thượng tập).
Trích đoạn nguyên văn lấy từ tác phẩm đã thuộc phạm vi công cộng, mỗi đoạn ngắn và có chọn lọc. Phiên âm Hán Việt, bản dịch, lời giải và phần giới thiệu do Thiên Tử Vi tự viết, không dùng bản dịch hiện đại của người khác. Nội dung mang tính tham khảo văn hóa và chiêm nghiệm, không phải dự đoán khoa học.